Lãi suất tiết kiệm tăng mạnh sau 1 năm, mốc 7% không còn hiếm
Thứ hai, 06/04/2026 05:30
Lãi suất tiết kiệm tăng mạnh sau 1 năm, mốc 7% không còn hiếm
Dữ liệu của VietNamNet về lãi suất huy động của các ngân hàng cho thấy, lãi suất huy động tại tất cả các ngân hàng đều biến động mạnh theo chiều hướng tăng trong vòng 1 năm qua.
Đầu năm 2025 (và hầu hết các tháng còn lại trong năm) không có ngân hàng nào niêm yết lãi suất tiết kiệm trên 7%/năm, nhưng hiện tại (tính đến 5/4/2026) đã có trên 10 ngân hàng niêm yết mức lãi suất này, trong khi lãi suất trên 6%/năm đã trở nên rất phổ biến ngay từ kỳ hạn 6 tháng.
So sánh lãi suất huy động các kỳ hạn 3, 6, 12 tháng tại thời điểm hiện tại (4/4/2026) với thời điểm cách đây 1 năm (31/3/2025), có thể thấy lãi suất huy động đã tăng phi mã.
Điều bất ngờ là nhóm ngân hàng Big4 (ngân hàng thương mại nhà nước) lại dẫn đầu về mức tăng lãi suất.
Cụ thể, Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank lần lượt là những ngân hàng tăng lãi suất mạnh nhất ở kỳ hạn 3 tháng.
Trong đó, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 3 tháng tại Vietcombank đã tăng 2,6%/năm lên 4,5%/năm sau 1 năm. BIDV và VietinBank cùng tăng tới 2,45%/năm lên mức trần 4,75%/năm. Agribank tăng 1,75%/năm lên 4,75%/năm.
Mức tăng trên 1%/năm với lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng còn có: SeABank tăng 1,5%/năm, Techcombank tăng 1,2%/năm, PVcombank, Sacombank, ACB, Saigonbank cùng tăng 1,15%/năm.
Điểm đáng chú ý đối với lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng nói riêng và các kỳ hạn 1-5 tháng nói chung, cách đây 1 năm không có ngân hàng nào niêm yết mức lãi suất trần 4,75%/năm, nhưng nay hầu hết các ngân hàng đã niêm yết mức lãi suất trần 4,75%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 3 tháng, cũng như các kỳ hạn 1-5 tháng.
Với mức giảm nhẹ 0,02%/năm, GPBank là ngân hàng duy nhất giảm lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng so với thời điểm cách đây 1 năm (tương tự với kỳ hạn 12 tháng).
Tuy nhiên, lãi suất ngân hàng niêm yết lại không giống với lãi suất thực tế ngân hàng đang trả cho người gửi tiền. Chẳng hạn, lãi suất huy động cao nhất theo niêm yết của GPBank đang là 5,85%/năm, trong khi một số chi nhánh của ngân hàng này vẫn đang mời gọi gửi tiền với lãi suất vượt 8%/năm.
Đối với kỳ hạn tiền gửi 6 tháng, ngoại trừ SCB giữ nguyên lãi suất niêm yết, các ngân hàng còn lại đều tăng lãi suất so với thời điểm 1 năm trước.
Nhóm ngân hàng Big4 tiếp tục dẫn đầu về mức tăng lãi suất tiết kiệm ở kỳ hạn 6 tháng.
Trong đó, BIDV và Agribank cùng tăng mạnh 3,3%/năm lên 6,8%/năm và 7%/năm.
Vietcombank và VietinBank lần lượt tăng 2,6%/năm và 2,2%/năm và đang cùng niêm yết mức lãi suất tiền gửi 5,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng.
Nhóm các ngân hàng tăng hơn 2%/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng còn có: LPBank, ACB, PGBank, Bac A Bank.
Tại kỳ hạn tiền gửi 12 tháng, vẫn là Agribank và BIDV dẫn đầu thị trường về mức tăng lãi suất so với thời điểm 1 năm về trước, lần lượt tăng 2,3%/năm và 2,1%/năm lên 7%/năm và 6,8%/năm.
LPBank đứng thứ ba với mức tăng 2%/năm lên 7,4%/năm.
Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại Vietcombank và VietinBank chỉ tăng lần lượt 1,3%/năm và 1,2%/năm so với cách đây 1 năm, thuộc nhóm có mức tăng trung bình trong tổng số 35 ngân hàng tăng lãi suất huy động kỳ hạn này so với 1 năm trước.
| BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT TRONG 1 NĂM QUA TẠI CÁC NGÂN HÀNG (%/NĂM) | ||||||
| NGÂN HÀNG | 3 THÁNG | 6 THÁNG | 12 THÁNG | |||
| 5/4/2026 | +/- So với 31/3/2025 | 5/4/2026 | +/- So với 31/3/2025 | 5/4/2026 | +/- So với 31/3/2025 | |
| VIETCOMBANK | 4,5 | +2,6 | 5,5 | +2,6 | 5,9 | +1,3 |
| BIDV | 4,75 | +2,45 | 6,6 | +3,3 | 6,8 | +2,1 |
| VIETINBANK | 4,75 | +2,45 | 5,5 | +2,2 | 5,9 | +1,2 |
| AGRIBANK | 4,75 | +1,75 | 7 | +3,3 | 7 | +2,3 |
| SEABANK | 4,75 | +1,5 | 5,35 | +1,4 | 5,8 | +1,1 |
| TECHCOMBANK | 4,75 | +1,2 | 6,05 | +1,5 | 6,25 | +1,5 |
| ACB | 4,65 | +1,15 | 6,35 | +2,15 | 6,55 | +1,65 |
| SACOMBANK | 4,75 | +1,15 | 6,8 | +1,9 | 6,8 | +1,4 |
| SAIGONBANK | 4,75 | +1,15 | 6,5 | +1,7 | 6,8 | +1,2 |
| PVCOMBANK | 4,75 | +1,15 | 5,8 | +1,3 | 6,1 | +1 |
| PGBANK | 4,75 | +0,95 | 7,1 | +2,1 | 7,2 | +1,8 |
| VIB | 4,75 | +0,95 | 5,7 | +1 | 6,5 | 1,6 |
| TPBANK | 4,75 | +0,95 | 6,25 | +1,45 | 6,45 | +1,25 |
| SHB | 4,65 | +0,85 | 6 | +1,1 | 6,3 | +1 |
| LPBANK | 4,75 | +0,85 | 7,3 | +2,2 | 7,4 | +2 |
| VPBANK | 4,75 | +0,85 | 6,6 | +1,7 | 6,8 | +1,4 |
| MSB | 4,75 | +0,85 | 6,4 | +1,4 | 6,8 | +1,2 |
| BAC A BANK | 4,75 | +0,75 | 7,05 | +2,1 | 7,1 | +1,7 |
| VIET A BANK | 4,75 | +0,75 | 6,5 | +1,3 | 6,6 | +0,9 |
| MB | 4,7 | +0,7 | 5,9 | +1,3 | 6,55 | +1,45 |
| KIENLONGBANK | 4,4 | +0,7 | 5,7 | +0,6 | 6 | +0,5 |
| BVBANK | 4,75 | +0,6 | 6,8 | +1,65 | 6,8 | +1,2 |
| OCB | 4,75 | +0,55 | 6,7 | +1,5 | 7 | +1,7 |
| NCB | 4,75 | +0,55 | 6,4 | +1,05 | 6,6 | +1 |
| NAM A BANK | 4,75 | +0,55 | 5,7 | +0,8 | 5,7 | +0,2 |
| VCBNEO | 4,75 | +0,4 | 7,2 | +1,5 | 7,2 | +1,35 |
| BAOVIETBANK | 4,75 | +0,4 | 6,7 | +1,25 | 6,75 | +0,95 |
| EXIMBANK | 4,7 | +0,4 | 5,4 | +0,3 | 5,3 | 0 |
| VIKKI BANK | 4,7 | +0,35 | 6,5 | +0,85 | 6,6 | +0,6 |
| MBV | 4,75 | +0,35 | 7,2 | +1,7 | 7,5 | +1,7 |
| HDBANK | 4,3 | +0,35 | 5,5 | +0,2 | 5,8 | +0,2 |
| VIETBANK | 4,6 | 0,2 | 6,1 | +0,7 | 6,3 | +0,5 |
| ABBANK | 4 | +0,1 | 6,3 | +0,9 | 6,3 | +0,6 |
| SCB | 1,9 | +0 | 2,9 | 0 | 3,7 | 0 |
| GPBANK | 4 | -0,02 | 5,55 | +0,2 | 5,85 | -0,2 |
|
Khi cầu tín dụng tăng mạnh, nhưng tăng trưởng huy động vốn không theo kịp, buộc các ngân hàng phải đẩy lãi suất đầu vào lên cao để thu hút nguồn vốn, nhằm cân đối thanh khoản và đáp ứng nhu cầu cho vay. Trước bối cảnh lãi suất cao, chi phí đầu vào tăng các ngân hàng đang triển khai đồng bộ các giải pháp tín dụng. Ông Lê Ngọc Lâm, Tổng Giám đốc BIDV cho biết: Năm 2026 nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng sẽ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng và chuyển đổi số. Đây là các động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng. Ông Phạm Hồng Hải, Tổng Giám đốc OCB cho biết: Thực tế, việc lãi suất cho vay tăng có phần chịu tác động từ áp lực huy động vốn. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn, để duy trì và giữ chân những khách hàng, ngân hàng phải chấp nhận áp dụng mức lãi suất cạnh tranh hơn. “Chúng tôi nhận định mức lãi suất hiện nay vẫn mang tính thời vụ. Chúng tôi kỳ vọng rằng khi dòng tiền từ các gói giải ngân đầu tư công – vốn luôn có độ trễ – quay trở lại nền kinh tế, thanh khoản trên hệ thống sẽ được cải thiện. Khi đó, áp lực lên cả lãi suất và tỷ giá sẽ giảm dần, và đây là kịch bản mà chúng tôi dự kiến cho sáu tháng cuối năm 2026", ông Hải nói. |