Mẹ đòi chia 12.350m2 đất, các con nói là tài sản riêng của người cha đã qua đời
Thứ ba, 07/04/2026 05:45
Mẹ đòi chia 12.350m2 đất, các con nói là tài sản riêng của người cha đã qua đời
Tranh chấp nguồn gốc đất giữa mẹ và các con
Theo trình bày của bà N. (ngụ tỉnh Cà Mau) tại bản án sơ thẩm ngày 30/9/2025 của TAND khu vực 4 - tỉnh Cà Mau, chồng của bà là ông H. đã qua đời vào năm 2016. Hai người có 6 người con chung.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà tạo lập và quản lý phần đất diện tích 16.630m2 tại địa phương, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1995, đứng tên ông H. Sau khi ông H. qua đời, bà N. tiếp tục quản lý và sử dụng đất.
Trước đó, khi ông H. còn sống, vợ chồng bà đã thống nhất cho người con trai là ông R. khoảng 5 công đất để canh tác. Phần đất này ông R. đã sử dụng ổn định và được các thành viên trong gia đình đồng thuận tiếp tục giao cho ông theo di nguyện của cha mẹ.
Diện tích 12.350m2 còn lại đang tranh chấp. Bà N. khởi kiện, yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật, đồng thời đề nghị không phân chia khu mộ và căn nhà trên đất mà để các con cùng đứng tên sở hữu.

Về phần mình, ông R. đồng ý nhận phần đất đã được cha mẹ cho trước đó và tự nguyện từ chối nhận phần di sản còn lại, nhường quyền cho mẹ và các anh chị em.
Trong khi đó, một số người con thống nhất quan điểm với bà N., đề nghị chia phần đất còn lại theo quy định và nhận kỷ phần tương ứng.
Tuy nhiên, 4 người con khác cho rằng toàn bộ diện tích đất là tài sản riêng của ông H. do được tặng cho hoặc thừa kế từ ông bà nội, căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một mình ông. Do đó, họ cho rằng không có cơ sở xác định đây là tài sản chung của cha mẹ.
Người mẹ được chia 7.200m2 đất
Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử TAND khu vực 4 - tỉnh Cà Mau nhận định, phần đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân, không có tài liệu chứng minh là tài sản riêng nên đủ cơ sở xác định là tài sản chung của vợ chồng bà N.
Sau khi trừ phần đất đã cho con trai R., khu mộ và nhà ở làm di sản thờ cúng, diện tích còn lại được xác định là di sản để chia thừa kế.
Từ đó, Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N., tiến hành chia phần đất còn lại cho các đồng thừa kế theo quy định. Phần đất có nhà và khu mộ được xác định là tài sản thờ cúng, giao cho các đồng thừa kế cùng quản lý và đứng tên.
Không đồng ý với phán quyết trên, bà N. kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N. đề nghị được nhận 7.200m2 đất.
Hội đồng xét xử TAND tỉnh Cà Mau cho rằng, mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên ông H., nhưng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy, không bắt buộc ghi tên cả hai vợ chồng. Đồng thời, không có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng của ông H.
Do đó, Tòa phúc thẩm kết luận toàn bộ diện tích 12.350m2 là tài sản chung của vợ chồng bà N. Khi ông H. qua đời, một nửa khối tài sản (6.175m2) được xác định là di sản thừa kế và chia đều cho 6 người thừa kế thuộc hàng thứ nhất. Bà N., ngoài phần tài sản chung, còn được hưởng thêm một kỷ phần thừa kế, tổng cộng 7.200m2.
Về phương án phân chia, do điều kiện sử dụng thực tế, Tòa án giao cho bà N. và người con cả quản lý các phần đất cụ thể, đồng thời buộc người con cả thanh toán tiền chênh lệch cho các đồng thừa kế khác. Những người con còn lại được nhận giá trị thừa kế bằng tiền tương ứng.
Trên cơ sở đó, TAND tỉnh Cà Mau chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà N., sửa một phần bản án sơ thẩm.


